
Cá Sặc Rằn
Thông tin tài liệu:
Nội dung trích xuất từ tài liệu:
Cá Sặc Rằn Cá Sặc Rằn Cá sặc rằn có thể được xem là một loài cá đặc biệt liên hệ thân thiếtvới người nông dân tại miền Nam Việt Nam. Cá tuy được xem là một nguồnthực phẩm tại các quốc gia Đông Nam Á, Thái Lan nhưng hiện đang đượcnuôi làm cá cảnh tại các nước Âu Mỹ. Cá sặc phơi khô và nướng chín là món nhậu tuyệt vờí khi ăn chungvới soài chua hay bông điên điển. Văn chương bình dân đã có nhiều câu thơngắn như : Điên điển mà đem muối chua Ăn cặp sặc nướng đến vua cũng thèm. Khô cá sặc hiện nay đã một sản phẩm được Thái Lan đóng gói và xuấtcảng đi khắp thế giới. Một trong những món ăn đặc biệt có thể gọi là khó tìm hay không thểtìm được tại hải ngoại là món Mắm cá sặc . Tác giả Đào Duy Hòa trong bài Lẩu Mắm miền Tây (Giai phẩm Mới-Xuân Canh Thìn-2000) đã viết: Mắm dùng làm Lẩu mắm phải là mắm sặc,đặt mua từ Châu Đốc. Trườc khi ủ mắm, cá phải chặt bõ đầu, nếu không conmắm sẽ bị hôi dầu và có chất tiết ra từ mắt và óc cá. Muốn cho con mắm đặcbiệt thơm ngon, phải chao mắm bằng củ ngãi mắm và ủ đúng thời gian :1năm rưỡi ! Mắm sặc khi sử dụng thường cho thêm ít nước vào, đun sôi lêncho rã thịt, lược bỏ xương, để có nước mắm cốt. Từ mắm cốt này sẽ pha chếra từng lẩu tùy theo nhu cầu của khách ăn và thời tiết. Trong lẩu gồm cácnguyên liệu: mực, ốc lác, thịt ba rọi, tôm, tàu hủ và một trong các loại cánhư: cá kèo, cá rô, chạch lấu, chạch nghệ, cá ngát, bông lau. Tùy theo túitiền khách hàng có thể chọn loại cá phù hợp. Cá sặc rằn phân bố rộng rãi tại các lưu vực sông Cửu Long và sôngChaoPhraya ở Kampuchea, Thái Lan và Nam Việt Nam, Lào. Cá đã đượcđưa vào Philippines, Mã Lai, Indonesia, Singapore, Papua Tân Ghinê, SriLanka và Tân Caledonie. Tại Philippines, cá được tìm thấy tại các hồBombon (Taal), hồ Mainit (Mindanao). Trong vùng Đông Nam Á, Sặc rằn sống tại các ruộng lúa, hồ cạn, kinhmương, nơi nước đọng có nhiều thực vật thuỷ sinh. Trong những mùa lụt, cácó thể theo nước vào đến các khu vực rừng ngập nước nhưng sau đó sẽ theonước để rút về lại vùng sông rạch ban đầu. Tại Việt nam, cá tập trung tại Cà Mau, Bạc liêu, Sóc trăng, Cần thơ vàLong Xuyên.. Tên khoa học và các tên khác: Trichogaster pectoralis thuộc họ cá Osphronemidae. Tên Anh-Mỹ : Snakeskin gourami, Siamese gourami, Bubble nestbuilder Pháp: Gourami peau de serpent; Tây ban Nha : Gurami piel deserpiente, Gourami aplanado Tên Á châu : Thái lan : Pla salid, Pla bai mai; Kampuchea: Treykantho Lào: Pa salit; Mã lai và Indonesia: Sepat siam Đặc tính sinh học: Cá sặc rằn có thể dài trên 20 cm, tối đa 25 cm, trung bình khoảng 15cm. Thân thuôn dài tương đối hẹp màu từ xám nhạt đến nâu có ánh lục haylam bạc. Vây lưng có 6 gai và 10 đến 11 tia. Cá đực có vây lưng dài vànhọn, chạm đến vây đuôi. Cá cái có vây lưng tròn, vây không đến cuống vâyđuôi. Điểm đặc biệt nhất của Sặc rằn là có một đường sắc tố chạy dài từsống lưng xuống đến bụng khá rõ ràng nơi cá đực, và không màu sắc rõ nơicá cái. Cá con có những lằn sọc zigzag kéo dài từ mắt xuống đến đuôi. Cá có bộ phận hô hấp sử dụng được không khí ngoài trời nên sốngđược ở điều kiện thiếu nước hay trong nước thiếu oxy, nước bẩn có nhiềuchất hữu cơ. Cá cũng có thể hấp thu oxygen trong nước qua hệ thống mang. Trong thiên nhiên, Cá sặc đẻ trứng tại các ruộng lúa, kinh mương nơicó nhiều thực vật thủy sinh. Mùa sinh đẻ thường vào các tháng từ 4 đến 10.Cá phát dục và được xem như trưởng thành khi 7 tháng tuổi. Cá cái lúc phátdục có bụng căng tròn mang buồng trứng chứa khoảng 200 đến 300 ngàntrứng. Khi sinh sản, cá đực và cái bắt cặp và tìm những những nơi kín đáoven bờ mương, ruộng để làm tổ. Cá cái đẻ trứng trong tổ, trứng nổi. Cá đựcbảo vệ trứng chống lại những cá khác xâm nhập vào tổ, kể cả cá mái. Trứngthụ tinh và nở sau 24-26 giờ, cá bột sau khi nở sẽ sống bằng chất dinh dưỡngcủa noãn hoàng trong 2-3 ngày, lúc này cá nổi trên mặt nước. Sau đó cá dichuyển xuống dưới để tự kiếm mồi. Cá đạt chiều dài chừng 2-3 cm sau một tháng. Cá thuộc loại chậm lớn,sau 2 năm cân nặng khoảng 150 gram. Sặc rằng ăn các thực vật thủy sinh,các chất hữu cơ lơ lửng trong nước, tảo phiêu sinh.. Theo Cơ quan FAO, tổng số lượng cá đánh bắt trong thiên nhiên đượcước lượng vào khoảng 24 ngàn tấn (năm 2005) và Indonesia là nước có consố đánh bắt cao nhất. Do ở giá trị kinh tế tương đối cao, và cá rất thích hợp để dùng làmthực phẩm tại các vùng nông thôn nên cá sặc rằn đã được nghiên cứu về khảnăng nuôi chúng trong các ao, vùng ruộng lúa. - Các nghiên cứu về nuôi cá sặc rằn trong vùng ruộng lúa không đưađến những kết quả khả quan: Sặc rằn chậm lớn nên mức tăng trưởng của cơthể không nhanh bằng cá rô phi, và cá chép (Aquaculture Research Số 32-2001). Tuy nhiên, khi nu6i cá trong ao, cho ăn các thực phẩm bổ xung nhưcám, bèo và các phế phẩm hữu cơ khác, cá có thể tăng trọng lượng nhanhhơn (khoảng 100 gram/ 6 tháng). Tổng sản lượng cá nuôi, theo FAO, lên đến40 ngàn tấn (2005). Tại Thái Lan, sặc rằn là một trong 5 loài cá nước ngọtquan trọng nhất được nuôi trong các ao hồ. Sặc rằn nuôi làm cá cảnh: Tại các quốc gia Âu-Mỹ, sặc rằn được nuôi làm cá cảnh trong các hồaquarium. Cá được xem là loài dễ nuôi nhất, thích hợp với những người bắtđầu nuôi nuôi cá cảnh, tuy cá có thể phát triển nhưng chúng là loại hiềnlành, có thể nuôi chung với các loài cá khác trong cùng một hồ. Cá chỉ cầnmực nước chừng 30cm. Nuôi trong hồ, sặc rằn thường sống nơi đáy hay nơi vùng giữa. Hồthích hợp nhất cần có kích thước dài khoảng 61 cm (24-inch). Hồ có dungtích 10-20 gallon (38-76 lit) có thể nuôi 1 cá dài chừng 10 cm. Cá lớn hơncần nuôi trong hồ cỡ 30 gallon (115 lit). Nước hồ cần có pH từ 5.8 đến 8.5và nhiệt độ từ 72 đến 86 đô. F (22 -30 đô. ...
Tìm kiếm theo từ khóa liên quan:
kiến thức y học bệnh thường gặp dinh dưỡng cho sức khỏe y học phổ thông tài liệu y học giáo dục y khoaTài liệu có liên quan:
-
LẬP KẾ HOẠCH GIÁO DỤC SỨC KHỎE
20 trang 228 0 0 -
Tài liệu hướng dẫn chẩn đoán và can thiệp trẻ có rối loạn phổ tự kỷ: Phần 1
42 trang 208 0 0 -
Access for Dialysis: Surgical and Radiologic Procedures - part 3
44 trang 190 0 0 -
HƯỚNG DẪN ĐIÊU KHẮC RĂNG (THEO TOOTH CARVING MANUAL / LINEK HENRY
48 trang 185 0 0 -
Một số Bệnh Lý Thần Kinh Thường Gặp
7 trang 183 0 0 -
GIÁO TRÌNH phân loại THUỐC THỬ HỮU CƠ
290 trang 132 0 0 -
Tài liệu Bệnh Học Thực Hành: TĨNH MẠCH VIÊM TẮC
8 trang 130 0 0 -
4 trang 122 0 0
-
Phương pháp luận trong nghiên cứu khoa học y học - PGS. TS Đỗ Hàm
92 trang 118 0 0 -
SINH MẠCH TÁN (Nội ngoại thương biện hoặc luận)
2 trang 90 1 0 -
Sai lầm trong ăn uống đang phổ biến ở người Việt
5 trang 84 0 0 -
4 trang 84 0 0
-
2 trang 72 0 0
-
XÂY DỰNG VHI (VOICE HANDICAP INDEX) PHIÊN BẢN TIẾNG VIỆT
25 trang 62 0 0 -
Đau như 'kiến bò' hay 'điện giật' khi cột sống cổ bất hợp tác
5 trang 58 0 0 -
Kiến thức y học - Sức khỏe quý hơn vàng: Phần 1
177 trang 55 0 0 -
KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, KỸ NĂNG SỬ DỤNG ORESOL
22 trang 53 0 0 -
Những bí quyết chữa bệnh từ đậu phụ
5 trang 52 0 0 -
Loại nấm bí ẩn – thuốc điều trị trầm cảm mới?
3 trang 50 0 0 -
Lý thuyết y khoa: Tên thuốc MEPRASAC HIKMA
5 trang 48 0 0